Công Ty TNHH GREENSOL với đội ngũ nhân viên nhiều năm kinh nghiệm trong lĩnh vực nghiên cứu - ứng dụng công nghệ mới và tiên tiến vào kỹ thuật xử lý nước và môi trường.
locnuocgiengkhoan.info Hotline: 028 6680 3136

Than hoạt tính

Công dụng của than hoạt tính

Với kết cấu đặc trưng và được sản xuất bới quy trình công nghệ tiên tiến, than làm sạch nước có kỹ năng lọc bỏ hàng trăm hợp chất hóa học có thể gây hại cho con người:

Ngoài công dụng khử mùi, màu, cặn, hóa chất vô cơ và hữu cơ, vi khuẩn (phụ thuộc vào kích thước lỗ lọc, than hoạt tính kết cấu khối đặc còn được sử dụng để loại bỏ:

Acetaldehyde

Acetic Acid

Acetone

Alcohols

Alkalinity

Amines

Amyl Acetate

Amyl Alcohol

Antifreeze

Xăng

thuốc tảy

Butyl Alcohol

Butyl Acetate

Calcium Hypochlorite

Chloral

Chloramine

Chloroform

Chlorine

Chlorobenzne

Chlorophenol

Chlorophyll

Citric Acid

Cresol

Defoliants

Bột giặt/ chất tảy rửa

Dầu Diesel

Thuốc nhuộm

Các loại nhũ tương

Ethyl Acetate

Ethyl Acrylate

Ethyl Alcohol

Ethyl Amine

Ethyl Chloride

Ethyl Ether

Formaldehyde

xăng dầu

Glycols

Herbicides

Hydrogen Bromide

Hydrogen Iodide

Hydrogen Peroxide

Hydrogen Selenide

Hydrogen Sulfide

Hypochlorous Acid

Insecticides

Iodine

Isopropyl Acetate

Isopropyl Alcohol

Ketones

Lactic

Mercaptans

Methyl Acetate

Methyl Alcohol

Methyl Bromide

Methyl Chloride

Methyl Ethyl Ketone

Dầu mỏ

Nitric Acid

Nitrobenzene

Nitrotuluene

Các loại mùi

Oil, dissolved

Dầu hòa tan

Acid Hữu cơ

Organic Esters

Muối hữu cơ

Oxalic Acids

Oxygen

Oxone

PCB's

Thuóc trừ sâu

Phenol

thành phần sản xuât Plastic

chất thải xi mạ

Potassium Permanganate

Phèn sắt kết tủa

Sulphur kết tủa

Propionic Acid

Propionaldehyde

Propyl Acetate

Propyl Alcohol

Propyl Chloride

Phóng xạ

Rubber Hose Taste

Cặn thô

Xà phòng/ Xà Bông

Sodium Hypochlorite

các dung môi chứa sắt

Sulphonated Oils

Suspended Matter

Tannins

Nhựa đường

Tartaric Acid

Vị lạ

Vị lạ từ các chất hữu cơ

THM's

Toluene

Toluidine

Trichlorethylene

Turpentine

Nước tiểu

Giấm ăn

Xylen

Gáo dừa nguyên liệu được cung ứng trực tiếp từ các cơ sở sơ chế dừa trái nhỏ hoặc từ hệ thống thương lái. Nguyên liệu gáo dừa được phân cấp chất lượng khác nhau chủ yếu theo các tiêu chí cảm quan như độ già của dừa, ẩm độ, độ dày của gáo, màu sắc. Giá của nguyên liệu loại một và nguyên liệu loại hai chênh nhau khoảng 10-20%.


Bình thường, nguyên liệu được tính bằng tấn, và cơ sở đốt than mua từ những mối hàng quen biết lâu năm (chiếm trên 90% nguyên liệu) và mua từ các ghe vãng lai (chiếm dưới 10%). Mỗi cơ sở có từ 2 đến trên 10 đầu mối cung ứng thường xuyên và nhiều mối vãng lai. Việc mua kinh doanh gáo dừa với những mối quen biết lâu năm tương đối thuận lợi và đảm bảo nguồn hàng ổn định. Phương thức thanh toán chủ yếu vẫn là mua đứt kinh doanh đoạn, thanh toán bằng tiền mặt, ít khi gối đầu hoặc trả chậm. Giá kinh doanh là do hai bên tự thương lượng theo mức giá thị trường từng thời điểm.

Các doanh nghiệp thu gom, nghiền sàng mua than gáo dừa từ các cơ sở thiêu kết nhỏ, hoặc các cơ sở vệ tinh. Thông thường, một doanh nghiệp thu gom nghiền sàng sẽ có từ 10 đến trên 100 điểm thiêu kết than gáo cung cấp nguyên liệu làm vệ tinh. Các cơ sở vệ tinh này phân tán khắp nơi trong tỉnh Bến Tre.

Các cơ sở đốt than gáo dừa hoạt động theo Phương thức tổ chức hộ dân là chủ yếu, với Quy mô vừa và nhỏ. Bình thường, họ có diện tích mặt bằng nhà xưởng chỉ vào khoảng 200-400 m2, vốn đầu tư ban đầu chỉ khoảng từ 30 đến 100 triệu đồng, và Qui mô lao động khoảng từ 5 – 10 người. Lao động chính vẫn là các thành viên trong gia đình và một ít lao động thời vụ thuê ngoài. Chủ cơ sở và các thành viên trong gia đình trực tiếp đảm nhận tất cả các vai trò quản lý và sản xuất. Chủ cơ sở thường là người có kinh nghiệm và quan hệ nhiều năm làm trong ngành dừa. Thế nhưng, trình độ của họ thường không cao, đa phần có trình độ từ cấp 3 trở xuống.


Quy mô về máy móc, công nghệ của các cơ sở này cũng đơn giản, và đáp ứng các tiêu chuẩn tối thiểu của ngành nghề. Công cụ sản xuất chính là lò đốt than xây bằng gạch và thiết bị xử lý chất khói thải. Ngoài ra, cơ sở đốt than còn áp dụng một số máy móc công cụ khác như máy bơm nước, ghe, công cụ cầm tay như cào, vải bạt. Ngoài ra còn có vôi và các hóa chất khác để tìm phương pháp xử lý khói thải.

Các cơ sở đốt than có hai hình thức hoạt động: một là tự mua gáo dừa về đốt và bán lại cho những cơ sở thu gom, xay than; hai là đốt than thuê cho các cơ sở thu gom, xay than. Có nhiều cơ sở đốt than gáo dừa được doanh nghiệp xay than đầu tư tiền bạc để xây dựng lò đốt và thiết bị tìm phương pháp xử lý chất thải, sau đó sẽ trả nợ dần bằng than gáo dừa thiêu kết hoặc đốt than thuê.

Thị trường đầu ra hiện nay của các cơ sở đốt than gáo dừa là các doanh nghiệp xay than, thị trường này chiếm gần như 99% sản lượng đầu ra. Một tỉ lệ nhỏ than loại thải than vụn được vận dụng làm than đốt tại địa phương. Mỗi cơ sở than thiêu kết đều có mối liên hệ chặt chẽ và lâu dài với một mối doanh nghiệp nghiền sàng than hạt.


Thị trường đầu ra của các doanh nghiệp xay than bao gồm thị trường là các doanh nghiệp sản xuất than hoạt tính trong nước và thị trường Trung Quốc.Theo số liệu của Cục Thống kê Bến Tre, năm 2009 Bến Tre xuất khẩu 16,5 ngàn tấn than thiêu kết, trong đó thị trường Trung Quốc chiếm 98,8% khối lượng này. Năm 2006, tổng công suất chế biến than các loại của Bến Tre là 25 ngàn tấn, sản lượng thực tế 18 ngàn tấn (theo Sở Khoa học và Công nghệ Bến Tre, 2011). Trong khi đó, năng lực chế biến than xử lý nước của công ty Pica là 6.000 tấn/năm (công suất đã lắp đặt) và công ty Trà Bắc là 4.000 tấn/năm; tương đương lượng than gáo dừa nguyên liệu 30 ngàn tấn/năm. bây giờ, công suất thực tế của hai công ty trên chỉ đạt dưới 50% công suất lắp đặt.

Thị trường tiêu thụ than xử lý nước quan trọng là các nước tăng trưởng. Công ty Pica xuất khẩu 100% sản lượng sản phẩm sản xuất ra được chuyển về công ty mẹ.

Than xử lý nước là chất được cấu tạo quan trọng từ cacbon, có nhiều dạng khác nhau như dạng hạt, dạng viên, dạng bột. tùy từng loại mà có thể áp dụng cho các mục đích khác nhau. Sở dĩ than lọc nước đạt được những điều trên là do diện tích tiếp xúc bề mặt lớn nên được áp dụng quan trọng cho việc hấp phụ các chất khác.


Diện tích bề mặt của than là rất lớn khoảng từ 400 - 2000 m2/g. Bề mặt riêng rất lớn này là hệ quả của cấu trúc xơ rỗng mà quan trọng là do thừa hưởng từ nguyên liệu hữu cơ xuất xứ, qua quá trình chưng khô (sấy) ở nhiệt độ cao trong điều kiện yếm khí. Phần lớn các vết rỗng - nứt vi mạch, đều có tính hấp thụ rất mạnh và chúng đóng vai trò các rãnh chuyển tải (kẽ nối). than lọc nước thường được tự nâng cấp (ví dụ, tự rửa tro hoặc các tạp chất tráng mặt), để lưu giữ lại được những thuộc tính lọc hút, để có thể thấm hút được các phụ gia đặc trưng như tạp chất kim loại.

Thuộc tính làm tăng ý nghĩa của than làm sạch nước còn ở phương diện nó là chất không độc (kể cả một khi đã ăn phải nó), giá thành sản xuất rẻ (được tạo từ gỗ và nhiều phế chất hữu cơ khác như từ vỏ, xơ dừa, trấu, tre). Chất thải của quá trình chế tạo than xử lý nước dễ dàng được tiêu hủy bằng phương pháp đốt. Nếu như các chất đã được lọc là những tạp chất kim loại thì việc thu hồi lại, từ tro đốt, cũng rất dễ.

Than lọc nước xử lý nước giếng khoan ở đây được cấu tạo chủ yếu từ gáo dừa bến tre. sau đó được đúc lại dưới dạng thanh để thuận tiện cho quá trình vận chuyển và áp dụng.
CÔNG DỤNG than hoạt tính xử lý nước cấp GIẾNG KHOAN:
Xử lý nước cấp máy, lọc nước giếng khoan
Lọc khí phòng sơn
Xử lý nước giếng khoan
Xử lý nước làm riệu, bia
Áp dụng trong ngành dược phẩm, bánh kẹo

Giải pháp lọc nước giếng khoan gia đình, trường học...